Thứ Tư, 21 tháng 11, 2012

HƠI THỞ CỦA HOÀ BÌNH

HƠI THỞ CỦA HOÀ BÌNH


(trích Chương 8 trong Minh triết của sự bền vững)
                                                                    Sulak Sivaraksa
Nguyễn Tiến Văn dịch

Minh triết của sự bền vững 
Kinh tế Phật giáo cho thế kỉ 21
Sulak Sivaraksa
Nguyễn Tiến Văn dịch
Nxb Tri thức, 2012
Sách dày 164 trang
                Nguyên tác: The wisdom of Sustainability
Buddhist Economics for the 21st Century

Chúng ta có quá đủ các chương trình, các tổ chức, các đảng phái và các chiến lược, nhưng chúng ta vẫn không đặt trọn niềm tin vào quyền lực của riêng hành động, đặc biệt là hành động chính trị, có thể làm giảm nhẹ đau khổ và bất công. Những nhà hoạt động và những trí thức thế tục có khuynh hướng nhìn mọi sự xấu xa như là bị gây ra bởi kẻ khác, hoặc hệ thống, mà không nhìn nhận rằng những nhân tố tiêu cực này cũng hoạt động cách nào bên trong chính bản thân họ. Họ tiếp cận các vấn đề toàn cầu như thể là khoa công trình học xã hội (Scial engineering) sẽ giải quyết chúng, rằng đạo đức cá nhân không thể tránh được sẽ kết quả từ sự tái cấu trúc triệt để xã hội.
Quan điểm đối nghịch lại – rằng sự thay đổi xã hội trước tiên đòi hỏi sự thay đổi cá nhân và tâm linh, hoặc ít nhất là đồng thời với nhau, đã được chấp nhận bởi những người theo các tông giáo trong nhiều nghìn năm. Những kẻ muốn thay đổi xã hội phải hiều rằng chiều kích bên trong của sự thay đổi. Coi trọng chiều kích tâm linh bằng tiếng nói cho chiều sâu của nhân tính. Mọi mô tả về trải nghiệm tông giáo rút lại là bởi ích kỉ.
Khi sự chuyển hoá cá nhân đạt được, chúng ta có được một cảm thức lớn hơn về trách nhiệm đạo đức. Sự thay đổi xã hội và các cấu xét tâm linh không thể tách lìa. Tông giáo ở ngay tâm của thay đổi xã hội, và thay đổi xã hội là yếu tính của tông giáo.
                                   
vvv
       Chúng ta không thể thắng vượt các giới hạn của tự thân cá nhân trong một môi trường phong kiến hũ nút. Bốn chân lí cao quý (Tứ diệu đế) -- khổ, những nguyên nhân của khổ, sự chấm dứt của khổ, và con đường tới sự chấm dứt của khổ -- có thể áp dụng một cách tốt lành và khéo léo vào chủ trương hoạt động xã hội. Những lời dạy của đức Phật vượt lên trên sự cứu vớt cá nhân.
      Đức Phật mô tả 3 nguyên nhân cội rễ của cái ác độc – tham lam (lobha), sân hận (dosa), và ngu si (moka). Hiểu những điều này giúp chúng ta nhận ra nguyên nhân của đau khổ và gợi ý ra cách nào có thể vượt thắng đau khổ. Ngày nay, dạng thức thống ngự của tham lam là chủ nghĩa tiêu dùng; chúng ta cố gắng vượt thắng sự trống rỗng trong đời sống chúng ta bằng cách tăng cường việc tiêu thụ. Chúng ta đành chịu phó mặc cho các nhà quảng cáo và, không thể tránh được, chúng ta bị bóc lột. Sự tham dục về quyền lực, một dạng của sân hận, có thể dụ dỗ chúng ta bảo vệ những hệ thống xã hội bất công. Ngu si được gây ra, đầu tiên và trên hết, do sự giáo dục không đầy đủ. Khi người đi học chỉ được đào tạo với những khả năng cần thiết  để trở thành người làm mướn và khi con cái chúng ta bị phơi ra với những giá trị chỉ qua truyền hình và các trò chơi máy tính, thì sự ngu si thắng thế. Chúng ta học thuộc lòng và chia ra từng phân bộ, mà không phát triển tư duy phê phán.
      Đau khổ có thể giảm nhẹ bằng sự hiểu biết chân chính (chính kiến). sự thực hành Phật giáo, bắt đầu với phép thở tỉnh thức, thấm nhuần chủ trương hành động của tôi. Phép thở tỉnh thức giúp xây dựng nhân thức, và với nhận thức chúng ta ý thức rằng chúng ta không thể giải quyết các vấn đề một mình. Dùng sự tự nhận thức phê phán, chúng ta thấy rằng chúng ta cần có bạn hữu để các hành động của chúng ta được hữu hiệu. Đôi khi chúng ta cần giáp mặt chạm trán. Đôi khi chúng ta cần đối thoại. Nếu đức Phật quay về với sự cô đơn của ngài – nói rằng ngài tiếc những người kia già và chết, nhưng rằng ngài xin lỗi, không thể làm gì để giúp đỡ -- thì ắt chẳng có đạo Phật. Chúng ta phải gặp những cá nhân làm việc ở Ngân hàng Thế giới, những tập đoàn đa quốc gia, những chính phủ và những đế chế với sự cảm thông và lòng từ bi. Đạo Phật không phải là một tông giáo với niềm tin mù quáng, mà là một tông giáo của thực hành và trải nghiệm. Chúng ta phải nếm sự thật cho bản thân mình.
      Sự thoả mãn mĩ học đi song hành với chủ trương hoạt động – tán thưởng những truyền thống nghệ thuật của chúng ta và sử dụng văn hoá và các nghệ thuật để giúp chúng ta đạt được những mục đích xã hội và chính trị. Văn hoá không bị giới hạn bởi các ranh giới quốc gia. Chúng ta có thể tán thưởng những châu báu ngọc ngà của mọi truyền thống. Những dân tộc bản địa biết cách sống đơn sơ và có thời gian hưởng thụ tự thân trong cộng đồng. Chúng ta phải tìm ra những lối sống mang lại hạnh phúc cho chúng ta mà không gây tổn hại cho kẻ khác hoặc cảnh quan.
                                   
vvv
      Tôi có đặc ân làm việc với Thượng toạ Maha Ghosananda trong tại tị nạn của người Khome sau khi người Mĩ bỏ xứ Campuchia cho người Khome Đỏ, rồi sau nữa cho người Việt Nam. Ngài cố thiết lập hoà bình giữa các phe phái đối thủ. Điều này là khó, nhưng quyết tâm của ngài không thể bị ngăn chặn. Ngài mời tôi mở những trại thực hành hoà giải giữa các nhà sư và cư sĩ Khome đối nghịch.
      Các xã hội Phật giáo có khuynh hướng nhìn sự việc trong trường kì. Ở Siam, các bi kịch lớn ít khi đáng cho người ta trước mắt. Những thái độ này là phổ biến ở các xã hội tin vào nghiệp lực (karma). Quan điểm này củng cố sự kiên nhẫn và viễn kiến. Yếu tính của truyền thống Phật giáo là vượt thắng sự ích kỉ và biến cái tham lam thành khoan dung, sân hận thành từ ái, và ngu si thành trí tuệ.
      Cội rễ của từ buddha (bụt, hoặc phật) có nghĩa là “tỉnh thức”, “giác ngộ”. Khi chúng ta được tỉnh thức với sự đơn sơ và sự khiêm tốn cũng như tỉnh thức với sự đau khổ tạo ra do tham, sân, si thì ý thức chúng ta được tái cấu trúc. Chúng ta trở nên tỉnh thức về tự thân và người khác, và tự nhiên là chúng ta cố gắng tái câu trúc xã hội. Sự tái cấu trúc ý thức cá nhân và tái cấu trúc xã hội là những hoạt động bổ túc cho nhau, và cả hai đều cần một cách tha thiết.      Phong trào Sarvodaya Shramadana ở Sri Lanka áp dụng các nguyên lí Phật giáo để thức tỉnh người ta trước hết từ cá nhân, rồi ở bình diện xã thôn và ở bình diện toàn quốc, sao cho rốt cuộc toàn thể loài người sẽ được tỉnh thức để sống như là một, trong tự lực, sử dụng kĩ thuật học thích đáng.
      Đức Phật là một nhà sư đơn sơ và khiêm tốn. Những lời dạy của ngài cung ứng một đường lối độc đáo để nhìn thế giới, và, nếu được hiểu và thực hành một cách đúng đắn, có thể dẫn chúng ta tới một đời sống cao quý. Đức Đạt La Lạt Ma cũng là một nhà sư đơn sơ, đang hướng dẫn nhiều người trong chúng ta với lòng từ bi, trí tuệ, và phương tiện thiện xảo (tốt lành và khéo léo) để sáng tạo một tương lai đầy hi vọng. Đức Phật dạy rằng bánh xe chính pháp (dhammacakka) phải kiểm soát bánh xe quyền lực (anacakka), rằng người giàu và quyền thế, đặc biệt là những kẻ cai trị, phải chỉ có một mối quan tâm trên hết, là mối quan tâm nêu cao chính pháp (dharma).
vvv
      Nếu tôi phải đến gặp đức Phật và hỏi xin một công thức đơn sơ để giải quyết những vấn nạn hiện đại của chúng ta, ngài có thể trả lời: “Tôi thở, vì vậy tôi hiện hữu.” Thở là thành tố quan trọng nhất trong đời sống chúng ta và trong đời sống của mọi sinh linh. Không thở, chúng ta chết. thở tiếp diễn ngày và đêm, hai mươi bốn giờ trong một ngày, bảy ngày trong một tuần.
      Tôi học được “Hơi thở của Hoà bình” từ thiền sư Thích Nhất Hạnh, và từ đó tôi đã luôn thực hành nó:
Thở vào, tôi bình an thân thể.
Thở ra, tôi mỉm miệng cười.
Ở trong khoảnh khắc hiện tiền,
Tôi biết đây là khoảnh khắc tuyệt vời
Thở vào, tôi biết mình đang thở vào.
Thở ra, tôi biết rằng khi tôi thở vào thành sâu, tôi thở ra   thành chậm.
Thở vào tôi cảm nhận bình an.
Thở ra, tôi cảm nhận hài hoà.
Khi thở vào, tôi mỉm miệng cười.
Khi thở ra, tôi buông thả mọi sức ép tích tụ.
Thở vào, tôi biết chỉ có khoảnh khắc hiện tiền.
Thở ra, tôi biết đó là khoảnh khắc tuyệt vời.
      Kĩ thuật này gọi là samatha bhavana (tu chỉ), giúp chúng ta duy trì sự an bình tĩnh lặng. Một khi chúng ta đã làm chủ sự thực tập đơn giản này, chúng ta sẵn sàng để thực hành kĩ thuật vipassana bhavana (tu quán) để tạo ra một nhạn thức phê phán về tự thân và tránh việc coi bản thân chúng ta là quá nghiêm trọng. Theo lối này, chúng ta trở nên ngày càng bớt ích kỉ và bắt đầu tìm kiếm hoà bình và công lí, căn cứ trên một sự hiểu biết thực sự về bản thân chúng ta và thế giới. Chúng ta không còn bị cai trị bởi sự tham, sân, si của chúng ta nữa.
      Chúng ta hãy thiền định cho hoà bình thế giới, công lí xã hội, và quân bình cảnh quan, bắt đầu bằng chính việc thở của chúng ta: tôi thở vào bình an và thở ra tỉnh thức. Một khi tôi đã có những hạt giống của hoà bình và hạnh phúc bên trong tôi, tôi sẽ giảm thiểu những dục vọng ích kỉ của tôi và tái tạo ý thức của tôi. Với sự bớt quyến luyến vào tự thân, tôi sẽ cố hiểu rõ sự bạo động cấu trúc trong thế giới. Nối trái tim tôi với đầu tôi, tôi nhìn thế giới một cách nhất thể, như một trái cầu đầy những sinh vật tất cả đều liên hệ với tôi. Tôi mở rộng sự hiểu bết của mình bằng tình thương yêu, giúp việc xây dựng một thế giới bất bạo động hơn. Tôi nguyện sống đơn sơ và cung hiến tự thân để phục vụ những ai đang bị áp bức. Bằng hồng ân của đấng từ bi, với sự giúp đỡ của các bạn tốt, nguyện tôi có thể là một người hợp tác trong việc làm giảm bớt khổ đau của thế giới để nó sẽ trở thành một nơi tốt lành cho tất cả chúng sinh ở trong hài hoà.
Nguyện tất cả chúng sinh hạnh phúc.
Nguyện tất cả chúng sinh thoát khỏi khổ đau.
Nguyện tất cả chúng sinh ở trong hoà bình.